Thế
Giới Bùa Ngải
Bùa Ngải là một thế giới thuộc khoa học huyền bí, một lãnh
vực đầy lạ lùng và bí ẩn mà khoa học hiện tại không thể giải thích cũng
như khám phá nổi. Đặc biệt là tại Á Châu nói chung và Việt Nam nói
riêng, Bùa Ngải vẫn là một đề tài đầy bí mật chưa bao giờ được tiết
lộ.
Chương
1
Vào
thập niên 60, những người tò mò, hoặc tin tưởng vào bùa ngải, ít ai
không biết tới thầy Mười ở cầu Bình Lựi, ông vào khoảng 70 nhưng thân
thể rất tráng kiện, nước da ngăm đen, người hơi lùn. Những lời đồn đãi
chung quanh cuộc sống của thầy Mười nhiều khi nghe tới rợn người. Những
quyền phép mà người ta nói về ông vượt xa óc tưởng tượng của các nhà
văn chuyên viết về chuyện ma quái.
Từ Sàigòn đi tới cầu Bình Lợi, cách khoảng 500 thước gần tới
chân cầu, một con đường đất nhỏ bên tay phải dắt tới những thửa vườn
dừa, cam và mận đầy ăm ắp. Vô trong chừng hơn cây số, quẹo tay trái,
gặp ngay một căn nhà ba gian hai trái, có mái ngói đỏ bạc mầu, đó chính
là nhà thầy Mười.
Thầy Mười sống với vợ con, nhiều người ngạc nhiên về số tiền thầy kiếm
được hàng tháng không phải là ít, vậy mà thầy Mười sống rất lam lũ, vợ
con hàng ngày nấu xôi đi bán rạo kháp vùng. Khi bước chân vô nhà thầy
Mười, trong căn phòng khách, chẳng ai có thể tin được ông già này lại
là một ông thầy bùa nổi danh như vậy.
Trong phòng khách, một chiếc bàn gỗ mộc mạc, sáu cái ghế đơn sơ, trên
bàn lót miếng kiếng, ở bên dưới tấm kiếng, mấy tấm hình vợ con xếp lung
tung trông thật quê mùa. Một bình trà và mấy cái chén nhỏ để trong
chiếc khay bằng nhôm cũ đã tróc nước sơn. Thầy Mười tiếp khách ở
đây.
Ngồi trong phòng kh.lch nhìn ra vườn; quả là một khung cảnh nên thơ, có
lẽ thầy Mười đã tốn rất nhiều công phu cho vườn cây trá i này.
Những mùa trái cây nở trộ, khách Sàigòn tới vườn cây của thầy Mười, ít
ai muốn về, nhất là vào dịp hè, trời Sàigòn nóng nực, trai gái kéo
xuống vườn trái cây của thầy Mười tình tự, nô đùa thật thích thú. Nhưng
ngay trong vườn cây, một cái am nho nhỏ, chiều dài khoảng 6 thước,
chiều ngang hơn 3 thước, nằm lạnh lùng, mặc dù chưa tới gần, mọi người
đã ngửi thấy mùi nhang trầm thơm ngát mùi thơm không lấy gì làm lạ với
những người mộ đạo Phật, vì đấy cũng chỉ là những loại nhang thơmbán
đầy dẫy ở ngoài chợ và chùa chiền nào cũng có.
Nhưng không hiểu sao, mùi nhang này tỏa ra từ căn nhà nhỏ bé kia, có
một sức quyến rũ lạ lùng. Tuy nhiên, khi bước chân tới gần căn nhà nhỏ
đó, ai cũng có cảm giác lành lạnh rợn người, như phải băng qua một bãi
tha ma vào những 'đêm trời tối. Mọi người đều biết đó là nơi thầy Mưừi
thờ phượng và luyện phép, nuôi ngải. Chưa có một người nào có đủ can
đảm bước vào n(~i đây một mình, kể cả những thầy bùa của những môn phái
khác, dù cho đã từng đi lại với thầy Mười
nhiều lần. Người ta gọi đây là Am Thầy Mười nơi bất khả xâm phạm và là
trung tâm của những chuyện kỳ bí ghê hồn.
Lần đầu tiên San được gặp thầy Mười vào một ngày hè, trời thực oi bức.
Buổi sáng hôm đó đã có một trận mưa nho nhỏ, nhưng không làm cho cái
nóng của Sàigòn giảm sút chút nào?
Vừa bước vào vườn cây thầy Mười, San đã cảm thấy tâm hồn thực thảnh
thơi. Có lẽ mầu xanh của lá, hương thơm của hoa, cũng như dáng dấp của
những chùm mận nặng trĩu trên cành làm chàng quên đi một Sàigòn đầy cát
bụi.
Hôm nay, San và sư phụ chàng tới gặp thầy Mười có hai mục đích: Thứ
nhất là đem một thân chủ xuống cho thầy Mười giúp dùm vài công chuyện
nan giải. Thứ hai là thầy Tư muốn giới thiệu San với thầy Mười, vì cách
đây mấy tháng, San đã chính thức được làm lễ "Xuất Sư.
Thầy Mười chính là đệ tử duy nhất, xuống núi sau cùng và kề cận Sư Tổ
khi mãn phần. Cũng vì lý do này, những sư huynh đệ cũa thầy Mười rất
kiêng nể ông/ trong đó có sư phụ San.
Được gặp thầy Mười là một điều thích thú. San đã nôn nóng muốn gặp ông
từ lâu, nhưng không được phép. Có lẽ với kinh nghiệm nhiều năm, hễ cứ
học trò nào đem xuống giới thiệu cho thầy Mưừi là y như rằng; không sớm
thì muộn, thầy Tư mất luôn đệ tử đó!
Họ thường lén lén, lút lút xuống cầu xin thầy Mười chỉ dạy những điều
thầy Tư chỉ dành cho những đệ tử đã được làm lễ xuất sư, có nghĩa là có
thể lập am thâu đệ tử, quảng bá môn phái.
Những người sau khi đã được làm lễ xuất sư rồi, không bao giừ được nhận
ngưừi khác làm thầy mình nữa, mặc dù cho có học hỏi ở người đó trăm
ngàn phép thuật, cũng chỉ coi là trao đổi và cùng tu luyện mà thôi. Đó
là lý do duy nhất San biết tại sao, dù thây Tư rất quí mến thầy Mười và
mà hôm nay chàng mới được gặp thầy Mười. Điều này đã mặc nhiên cho
thấy; trên phương diện tu luyện, quảng bá pháp thuật của môn phái đã có
sự cạnh tranh thương mại rồi!
Vừa bước chân qua cổng vườn, mấy con chó nhào ra sủa vang, cô thân chủ
theo sau vội thụt lại. Thầy Tư cười hì hì, nói lớn:
- Thầy Mười đâu rồi, không ra đuổi mấy con chó quỉ này đi, bộ trốn
trong đó đặng tụi tôi nấu xong nồi thịt cầy mới ra phải không?
Tiếng cười thực sảng khoái vang lên làm cho mọi người giật mình. Thầy
Mười đang leo xuống từ một cây mận gần đó, vừa cười vừa nói:
- Cứ mỗi lân thầy Tư xuống thăm tôi là hăm thịt mấy thằng đệ tử này của
tôi. Bữa nào tôi làm thịt một con xem thầy có dám ăn không?
Trong môn phái điều kỵ nhất là ăn thịt chó. Cũng vì vậy mà mấy ông thầy
thường đem vấn đề ăn thịt chó nói chơi hoài.
Có một điều không hiểu tại sao, hồi San chưa nhập môn đã ăn thịt chó
nhlều lần mà không thấy khoái khẩu chút nào, nếu không muốn nói là sau
này thấy người ta ăn thịt chó là mình còn buồn nôn nữa. Vậy mà sau khi
theo thầy Tư học bùa, luyện ngải, thịt chó là món ăn làm San thèm
thuồng, tới nhiều khi muốn bỏ thầy, lìa Tổ, để chén một bữa thịt cầy
cho thỏa mãn. Cũng vì thế mà chàng hiểu tâm
trạng của cả thầy Tư lẫn thầy Mười, thường lôi vấn đề ăn thịt chó ra
nói cho đỡ thèm.
Lơn tơn đi ra cổng, thầy Mười vẫn giữnụ cười thật tươi. Tới đuổi mấy
con chó đi, thầy Mười chỉ ngay San nói:
- Có phải chú em này là thầy San đó không?
San giật mình vì không hiểu tại sao thầy Mười lại biết mình, thầy Tư
quay qua nhìn San cười hì hì.
- Tôi dám chắc mấy thằng đệ tử tôi đem hình thầy cho thầy Mười coi rồi.
Thầy đừng có để thầy Mười dằn mặt đó.
San cười giả lả.
- Dạ thưa thầy con đâu dám. Với thầy Mười thì cần gì phải dằn mặt. Lúc
nào con lại không biết đang đứng trước núi Thái Sơn. Là học trò của
thầy từ lâu, ai lại không biết thầy Mười là đệ tử cưng của Sư Tổ. Chính
thầy là sư huynh của thầy Mười, thầy cũng biết điều đó hơn ai hết
mà.
Thầy Tư mỉm cười, ông biết San vừa nhắc khéo thầy Mười thân phận bề
trên của mình, điều mà nhiều khi vì tài giỏi hơn thầy Tư, thầy Mười
thường né tránh cấp bậc đàn em đó.
Thầy Mười cười lớn.
- Khéo thật, khéo thật. Chỉ một câu nói diện kiến này của thầy San, tôi
đã biết thầy Tư chọn không lầm người cho xuất sư. Chẳng bù với đám đệ
tử của tôi, không đáng sách dép cho thầy. Thôi, mời tất cả vô nhà
đi.
San vừa định nói thêm vài lời tâng bốc, thầy Mười đã quay lưng đi vô
trong. Mọi người lẽo đẽo theo sau.
Hình như thầy Mười không chạy, coi bộ ông ta đi rất thong thả mà vừa đó
đã tới thềm nhà rồi, trong khi mọi người còn lếch thếch ở mãi ngoài sân.
Thầy Tư lẩm bẩm:
- Lại giở trò rồi, đó là phép thâu đất. Đi một bước bằng ba. Tôi biết,
hể gặp đệ tử mới của tôi là thế nào ông ấy cũng dằn mặt. Chứng nào vẫn
tật đó.
San mỉm cười:
- Với ai thì thầy lo, còn con đã xuất sư rồi, những điều thầy Mười
biết, mình cũng biết chứ có lạ lùng gì đâu.
Thầy Tư lắc đầu.
- Thầy lầm rồi, trong môn phái, cả trăm người được xuất sư, nhưng chưa
có ai qua mặt được thầy Mười đâu. Nhiều điều thầy Mười làm mà tôi chưa
bao giờ được nghe Sư Tổ nói tới, chứ đừng nói là luyện được nữa.
- Như vậy có nghĩa là Sư Tổ mãn phần, thầy Mười đương nhiên là chưởng
môn.
Thầy Tư lắc đầu.
- Không phả i vậy, lúc đầu ai cũng tưởng như thế. Khi thầy Mười mang
tin Sư Tổ chết về, họp anh em lại, dở bức di chúc của Sư Tổ ra. Ai cũng
tưởng là di huấn lập thầy Mười lên làm chưởng môn. Lúc đó, tụi tôi đứa
nào cũng lễ mể đem quà tặng tới. Đến khi mở tờ dl huấn ra, chỉ có vẻn
vẹn mấy chữ:
Phật tại tâm.
Bạo phát bạo tàn.
Hồn ai nấy giữ.
Chân không.
Đúng là nét chữ của Sư Tổ, mọi người hoảng kinh vì biết là Sư Tổ không
chỉ định chưởng môn mà để lại một lời cảnh cáo thôi.
Tuy nhiên, hai chữ cuối cùng "Chân không" thì quả thực chưa ai hiểu
thấu.
Nhiều người lấy thiền triết ra giải nhưng cũng không ổn, vì có nhiều lẽ
nghịch lý với môn phái. Cái không không của nhà Phật cũng chẳng hạp với
những gì các đệ tử trong môn phái đã học được. Bởi vậy, cho tới giờ
này, di huấn vẫn là một điều bí mật.
- Bây giờ tờ di huấn đó ở đâu hả thầy?
- Để ở trong am thầy Mười.
Con muốn coi được không?
- Ai coi mà không được, duy chỉ có điều thầy Mười lộng vô khuôn lớn để
sau lưng tượng Phật Tổ, gắn liền vào tường, che màn lên nên không gỡ ra
được.
- Trong số các thầy, bộ không ai muốn giữ tờ di huấn của Sư Tổ à?
- Ai mà không muốn, nhưng mà thầy Mười đâu phải tay dở!!
Tự nhiên San linh cảm có điều gì không ổn. Di huấn của Sư Tổ chưa được
hiểu rõ ràng và đó cũng là những lời duy nhất của vị Sư Tổ sau cùng để
lại. Nay thầy Mười giữ để thờ phụng. Như vậy, có khác gì chính thầy
Mười là chưởng đâu.
Những đệ tử được xuất sư có ai lại không muốn được tận mắt nhìn thấy di
huấn này. Như vậy có nghĩa là phải tới bái kiến thầy Mười để được nhìn
thấy di huấn. Hơn thế nữa, thầy Mười lại là người xuống núi sau cùng và
chôn cất Sư Tổ, thử hỏi những bửu bối của ngài hiện ai giữ, nếu không
phải là thầy Mười.
Nghĩ vậy nên San hỏi thầy Tư:
- Thưa thầy, ngoài di huấn đó ra, thầy Mười còn đem xuống núi những gì
khác không?
Thầy Tư gật đầu:
Không ai biết hết được những gì thầy Mười đem từ núi xuống.
- Nhưng ít nhất lúc Sư Tổ còn sống, cũng có người lên thăm nuôi và biết
được Sư Tổ có những gì chứ?
- Mấy năm chiến tranh lan rộng, không còn ai dám lên núi gặp Sư Tổ nữa.
Chỉ còn thầy Mười là người duy nhất ở trên đó thôi, đến lúc Sư Tổ chết,
cũng phải là gần mười năm xa lìa đám đệ tử. Những gì sau này Sư Tổ
luyện được đâu có ai biết, ngoài thầy Mười.
- Nếu vậy tại sao Sư Tổ không cho thầy Mười làm chưởng môn?
- Ai lại không biết tâm tánh thầy Mười. Ông nổi tiếng về chuyện tà ma
thôi. Những điều tốt lành không làm ông có hứng thú.
Nói tới đây, mọi người đã đi tới thềm nhà.
Thầy Mười đang đứng ở đó chờ, ông nhìn San tủm tỉm cười:
- Hôm nay thầy San tới đây, chắc chắn phải ở lại đây tới sáng mai rồi.
Nghe nói thầy làm ở Cục An Ninh cũng được tự do lắm, không phải trực
gác gì phải không?
- Dạ, con lo phận sự ở ngoài nên miễn trực gác.
- Đi lính như thầy khỏe ru, chẳng bù với mấy thằng đệ tử tôi; đi hành
quân muốt mùa, lâu lâu mới được về, bởi vậy chẳng có đứa nào tu luyện
được môn nào cho ra hồn cả!
Thầy Tư mỉm cười nói vô:
- Tôi cũng may mắn có được thầy San, nếu không cũng chẳng biết phải làm
sao. Tụi mình già quá rồi mà đệ tử chẳng có đứa nào đủ sức cho xuất sư
cả. Nghĩ cũng buồn.
Thầy Mưừi trầm ngâm:
- Cái kiểu này, chiến tranh kéo dài rồi lấy ai nối nghiệp mình đây. Dù
cho có xuất sư được mười ông thì chỉ vài năm sau cũng có tới tám ông bỏ
cuộc, còn hai ông đi
vào đường bá đạo, làm tan nát hết, lúc ấy Tổ cũng bỏ, Phật cũng chê mà
thôi.
Bỗng thầy Tư cười lớn, nói nửa đùa nửa thật:
- Hôm nay mới nghe được thầy Mười nói một câu nhơn đức.
Thầy Mười cười ha hả, nói với San:
- Thầy San đừng có nghe lời thầy Tư mà nghĩ xấu cho tôi nhé. Dù mình có
luyện tà ma nhưng ăn hiền ở lành. Trời Phật cũng độ.
San nói bọc theo:
- Dạ, thầy bà cốt giừ được cái đức là Trời thương rồi. Còn chánh hay tà
là người đời gán ghép đâu có quan hệ gì.
Nghe San nói, thầy Mười có vẻ khoái lắm. Ông nhìn thầy Tư cười hể
hả:
- Thầy Tư nghe chưa. Tôi bắt đầu khoái thầy San rồi đó. Tôi bảo đảm với
thầy, nếu Sư Tổ còn sống, chắc chắn ngài cũng vui lắm. Không lý chức
chưởng môn lại lọt vào tay đời sau chúng hay mình sao?
Thầy Tư chỉ mỉm cười, ông nhìn San nhắc lại một phần lời di huấn của Sư
Tổ:
Phật tại tâm. Hồn ai nấy giữ nghe thầy San.
San lật đật nói:
- Dạ... dạ, thầy Mười thương thì nói nhưvậy thôi, con biết mình hơn ai
hết mà. .
Đến bây giờ thầy Tư mới chỉ người con gái đi theo, nói với thầy Mười:
- Đây là cô Lệ, chủ quán rượu bán cho Mỹ ở Sàigòn. Cô Lệ theo tôi cũng
lâu, nay tôi muốn đem cô ấy lên đây nhờ thầy giúp một tay.
Bỗng thầy Mười bật cưừi ha hả:
- Sao khéo quá vậy, không lý là cái duyên của thầy San.
San lật đật nói ngay:
- Thưa thầy, con với cô Lệ không có gì đâu, cô Lệ cũng biết mà.
Từ lúc tới đây tới giờ, Lệ chỉ lẽo đẽo theo sau mọi người, bây giờ nàng
mới lên tiếng:
- Dạ thưa thầy Mười, con-lên đây để xin thầy ít món đồ về buôn bán
thôi/ chứ con với thầy San là chỗ quen biết lâu rồi. Con không dám nghĩ
tới chuyện khác đâu.
Thầy Mười mỉm cười:
- À, tôi có nói gì chuyện này nọ đâu. Tôi nói cái duyên là hôm nay ông
Tổ trong cây chuối hột của tôi luyện đúng 100 ngày. Đang cần một nam
một nữ để thỉnh ông Tổ ra. Tôi già rồi, luyện ba cái phép này tội
nghiệp quá, hơn nữa, kiếm mấy đệ tử nữ cho loại bửu bối này cũng khó.
Cái này chỉ hạp cho các cô cần để mồi chài đàn ông thôi. Hôm nay cũng
có một bà sồn sồn muốn tới thỉnh để mồi chài cái ông quan gì trên quận,
xin mở cái quán. Tôi đang định cho bà ta hay, nhưng còn đang chần chờ,
vì nghĩ cũng tiếc cho công trình 100 ngày của tôi, chỉ để cho bà ta xin
giấy phép mở cái quán cốc thì uổng quá. Bây giờ có cô và thầy San ở
đây quả là cái duyên rồi. Thầy San học được bửu bối mà chính thầy Tưlà
sưphụ của thầy San cũng chỉ nghe nói mà chưa luyện được. Còn cô gập
đúng ngày đem được ông Tổ này về, lo gì làm ăn không khá. Đàn ông sẽ
quì dưới chân cô hàng chục đứa cho coi. Nhưng đừng có làm ác, dụ dỗ
chồng con người ta mà mang tội đó.
Lệ hớn hở, nói:
- Con xin cám ơn thầy Mười, con xin lỗi đã nghĩ tầm bậy. Xin thầy chỉ
cho con phải mua sắm gì bây giờ, con xin đi mua ngay.
Thầy Mười cười hề hề, nói như giễu:
- Phật này không dụng trái cây. Có ai tưởng đến thì xin đi
tiền.
Mọi người cùng cười xoà vì cái tếu của thầy Mười. Trong khi đó, thầy
Mười luồn tay qua lưng qưần, lôi ra một sợi dây cà tha, loại dây được
bện bằng chỉ ngũ sắc, có 5 đốt bằng chì cán mỏng, chia sợi dây làm năm
khúc, tượng trưng cho Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Công dụng của loại dây
này để độ thân hoặc luyện gồng~ tùy theo người thầy luyện phép nào vô
dây cà tha. Thầy Mười đưa sợi dây cà tha cho San, nói:
- Tối nay đúng nửa đêm, thầy sẽ đưa cô Lệ ra vườn sau, chỗ cây chuối
hột tôi luyện bửu bối. Hai người bưng cái tráp nhỏ bằng sừng con tê
giác của tôi hứng ngay dưới bắp chuối. Hãy hứng lấy đúng 36 giọt. Trong
cái tráp nhỏ bằng sừng tê giác này, tôi có bôi một lớp mỡ voi nên giữ
được những giọt nước phép đó trọn vẹn, không thể thấm vào đâu được Khi
nào thấy nước không rỉ ra nữa thì phải
coi chừng, ngay ở tầu lá chuối non vừa nhú ra, có một ông Tổ nanh heo
của tôi được tào lá mới nhô ra đó mang từ dưới gốc cây lên, tôi đã gởi
vào thân cây từ 100 ngày trước. Thầy San phải nấm lấy ông Tổ liền, đừng
để cho tào lá chuối
nở tung ra, hất ông Tổ xuống đất là nước phép hết linh nghiệm ngay. Bởi
vì không thể để ông Tổ nhập thổ được. Khi nắm được ông Tổ rồi, thầy bỏ
liền vô miệng núc một cái rồi lại bỏ vào miệng cô Lệ để cô ta núc một
cái nữa, xong đặt ông Tổ vô cái tráp có mấy hạt nước vừa hứng được, đậy
lại là xong.
Lúc nãy, thầy Tư nói thầy San: "Hồn ai nấy giữ là đúng, nhưng sức thầy
trong lúc này chưa giữ nổi hồn của thầy đâu bởi vậy tôi mới đưa sợi dây
cà tha hộ mệnh của tôi cho thầy. Thầy phải đeo vào tôi mới an tâm
được.
San cầm sợi dây cà tha tần ngần. Năm đốt chì cán mỏng để vẽ bùa cuốn vô
dây không phải làm bầng chì mà là 5 đốt vàng ròng. Mỗi đốt cũng phải
hơn nửa lượng vàng lá. San thắt sợi dây cà tha vào bụng mà nghe hồi hộp
lạ lùng.
Thầy Tư bảo chàng:
- Nếu tôi biết luyện phép chuối hột cũng không dám làm. Lấy dây cà tha
vàng đâu mà dùng bây giờ.
San cũng đồng ý với thầy Tư ngay:
- Con cũng nghĩ vậy. Dù có học xong pháp môn này cũng đành để đó thôi,
lương lính lấy tiền đâu mua vàng lá làm cà tha đây.
Thầy Mười mỉm cười chỉ Lệ:
- Cái đó cô Lệ sẽ lo cho các thầy. Tôi phá lệ lần này, không nhận tiền
tổ của cô Lệ. Tôi cho cô đem phép ông Tổ về dùng để mồi chài mấy thằng
Mỹ kiếm tiền. Tôi nói trước cho cô Lệ hay, trong vòng mười ngày, cô sẽ
kiếm được mười lần hơn số tiền mua vàng để làm sợi cà tha này. Đúng
ngày thứmười một, có một người đàn ông nào cho cô một đồng, cô cứ ỉa ra
mang lên đây cho tôi ăn. Còn khi kiếm được nhiều tiền hơn tôi nói, cô
phải mua đủ số vàng đem tặng thầy San cho tôi luyện dây cà tha cho thầy
ấy, cô có chịu không?
Lệ mừng rỡ nói ngay:
- Dạ... dạ... con chịu, con chịu. Chẳng nói dấu gì thầy, mấy tháng nay
ế ẩm, chẳng nói mười ngày mà cả tháng con cũng không kiếm được nhiều
tiền như vậy đâu. Nếu có tiền là con mua vàng lên nạp cho thầy San
liền.
Thầy Mười gật gù mỉm cười trong khi cả thầy Tư và San vừa mừngvừa phục
thầy Mười hết sức. San không ngờ thầy Mười dám nói mạnh miệng như vậy.
Từ hồi theo thầy Tư tới giờ, mỗi ìân giúp thân chủ nào điều gì, thầy Tư
chỉ dám xin tiền nhang đèn là 36 đồng là cùng, sau này tiền bạc mất
giá, thầy Tư tăng lên 360 đồng. Chưa bao giờ chàng thấy thầy Tư đòi ai
bạc ngàn cả. Hôm nay thầy Mười nói như vậy có nghĩa là cô Lệ phải trả
ít nhất là hai lượng vàng lá. Chàng cũng không ngờ là cô Lệ lại vui vẻ
nhận lời như thế.
San còn đang tần ngần, thầy Mười nói tiếp:
- Cô hãy đưa bàn tay phải tôi coi.
Lệ ngoan ngoãn đưa bàn tay ra cho thầy Mười coi ngay. Thầy Mười nắm bàn
tay thon nhỏ và trắng muốt của Lệ cúi sát xuống coi thực kỹ. Hai tay
thầy nâng niu bàn tay và vuốt nhè nhẹ trong lòng bàn tay cô. Không khí
nặng chĩu, mọi ngưừi đều im lặng theo dõi mọi cứ chỉ của thầy
Mười.
Coi bàn tay một lúc sau, thầy Mười vạch mí mắt Lệ coi, rồi lại coi sau
lỗ tai, vuốt nhè nhẹ sau gáy Lệ rồi nói:
- Cô theo thầy Tư được bao lâu rồi?
- Dạ cũng khoảng hơn ba tháng.
- Trong thời gian đó, cô có đi thầy bà nào khác không?
- Dạ có.
- Tại sao cô lại bỏ thầy Tư đi kiếm người khác?
Lệ hơi tần ngần, nhìn thầy Tư thực nhanh:
- Tại con nôn nóng, hàng họ ế ẩm quá nên theo mấy đứa bạn thôi, chứ con
có bỏ thầy Tư đâu.
Thầy Mười cười khà khà:
- Thế rồi hôm nay cô trở lại thầy Tư, ông ta không chịu giúp cô nữa và
đem cô lên đây phải không?
Lệ cuống quít, nói:
- Dạ... dạ... lúc nào con cũng kính trọng thầy Tư mà, con đâu có giám
phản ai đâu, chỉ tại hàng họ ế ẩm quá nên theo mấy đứa bạn thôi.
- Tôi có nói gì cô đâu, nhưng mà bạn bè cô hại cô rồi.
Lệ ngơ ngác:
- Thưa thầy nói sao ạ?
- Cô chưa biết thủ đoạn của mấy thằng thầy bùa thầy ngải bá đạo. Chúng
nó chỉ giỏi hại người ta thôi, chứ không giúp ích gì được ai. Thấy cô
có tiền, chúng ếm cô rồi. Cô đang bị ếm bằng Ngải Đen đó. Nếu không gặp
tôi hôm nay, cô sẽ lệ thuộc vào thằng thầy ma giáo nào đó suốt đời, cô
phải đi làm nuôi nó, nếu không Ngãi Đen sẽ phát ra làm máu cô đen lại,
đau nhức khắp mình mà chết. Lúc đó có
Trời mới cứu được cô.
Trong khi San bán tín bán nghi, Lệ nói:
- Xin thầy giúp con...
San nghe được âm thanh nghi ngờ của Lệ trong câu nói, cô ta có vẻ dầy
dạn trong vấn đề thầy bà. Thầy Mườl mỉm cười, nói tỉnh bơ:
- Trước hết cô nhìn bàn tay cô mà tôi vừa coi xem có gì trong đó không?
Lệ đưa bàn tay lên coi rồi lắc đầu, nói:
- Dạ không.
- Được, ly nước trà cô vừa uống còn không?
Lệ cầm ly nước trà lên, nhìn sơ rồi nói:
- Dạ, còn nửa ly thôi. .
Cô bưng ly nước lên bằng hai tay ngang tầm mắt, nhìn cho kỹ vào ly nước.
Lệ làm theo lời thầy Mưừi ngay, nàng rất tỉnh táo bưng ly nước lên
ngang mặt.
- Bây giờ cô khấn theo tôi.
Lệ “dạ” một tiếng nho nhỏ, trong khi thầy Mười khấn:
- Xin 36 vì Phật Tổ chứng minh.
Lệ lập lại ngay:
- Xin 36 vì Phật Tổ chứng minh.
- Con tên là...
- Con tên là Nguyễn thị Diễm Lệ.
- Cho con thấy dấu tích Ngãi Đen trên mình con.
- Cho con thấy dấu tích Ngãi Đen trên mình con.
Thầy Mười lùi ra sau mấy bước, bắt ấn chỉ vô ly nước đọc lâm râm nhưng
câu thần chú thực khó hiểu rồi quát lớn:
- Cấp cấp như luật lệnh, mau.
Nói xong, thầy ra ghế ngồi rút một điếu thuốc lá, bật hộp quẹt châm lửa
đốt như không có chuyện gì xẩy ra. Hít một hơi thực dài, thở khói ra
rồi nói:
- Cô đem ly nước này ra ngoài sân, cầm ly nước bằng tay trái, đổ vô bàn
tay mặt sẽ thấy Ngãi Đen xuất hiện.
Lệ dạ một tiếng, bước ra sân ngay. San tò mò đi theo, ra tới sân, Lệ
nhìn San mỉm cười như đùa cợt. Cô ta để ngữa bàn tay phải rồi đổ từ từ
chén trà vô bàn tay.
Nước trà vừa đổ vô bàn tay, Lệ bỗng rú lên, thân thể run rẩy. Nàng sợ
hãi tới cùng cực, mặt mày xanh mét. San thấy bàn tay Lệ tự nhiên gặp
nước trà trở nên đen như mực, chẳng khác gì ly nước trà là bình mực tầu
tưới vô bàn tay nàng, San vội đỡ ly nước trên tay Lệ, trong khi Lệ mếu
máo:
- Thầy San ơi, Trời ơi, cái gì thế này...
San hơi một thoáng nghi ngờ, vội lấy ly nước trà còn lại đổ vào tay
mình, nhưng chẳng có gì xẩy ra, nưức trà vẫn là nước trà. Cẩn thận hơn,
chàng đưa ly nước lên miệng nhấp thử cũng chẳng thấy gì lạ, trong khi
Lệ theo dõi từng cử chỉ của San, chàng bảo nàng:
- Cô thử nếm một chút xem, trong ly nước này chẳng có gì lạ cả.
Lệ lắc đầu nguầy nguậy, nhìn ly nước trà như một quái vật:
- Không... không... em sợ lắm.
Thầy Mười cũng vừa ra tới, trên tay ông cầm ly nước, vừa uống vừa nhìn
Lệ mỉm cười:
- Cô đưa bàn tay trái đây coi.
Lệ đưa bàn tay trái ra ngay, thầy Mười cầm tay Lệ lên coi một chút,
vuốt nhè nhẹ cho những chỉ tay hiện rõ như thầy bói coi chỉ tay rồi lắc
đầu nói:
- Thằng này ác thực, thường thì người ta chỉ ếm đàn ông vào tay trái.
Đàn bà con gái vào tay mặt, nó bất chấp thiên lệnh, ếm cô vào cả hai
tay.
Vừa nói ông đổ luôn ly nước trà đang uống, vào bàn tay trái Lệ. Bàn tay
này cũng trở nên đen thui ngay.
Lệ như một cái xác chết từ từ đổ xuống. San vội vã đỡ lấy nàng. Thầy
Mười mỉm cười:
- Thầy San bồng cô ấy theo tôi.
Nói rồi ông đi ra vườn ngay, San ẵm Lệ khệ nệ theo sau thầy Mười, chàng
để ý thầy Tư vẫn ngồi ở phòng khách uống trà, dửng dưng như không có
chuyện gì xẩy ra.
Thầy Mười đi thẳng tới căn nhà nhỏ trong vườn, mở cửa bảo San:
- Thầy đưa cô Lệ vô đây, đặt nằm trước bàn thừ Tổ đi.
San làm theo lời thầy Mười, đặt Lệ nằm ngay ngắn trên mảnh chiếu nhỏ
trải trước bàn thờ. Có lẽ Lệ đã tỉnh lại rồi, cô ta rên rỉ khe khẽ, cặp
mắt trắng dã nhìn San thất thần.
Thầy Mười đưa San một xấp giấy súc vàng bạc, bảo chàng lau tay cho Lệ.
San lau ngay và chỉ một lúc sau tay nàng lại trắng trẻo, mịn màng/
chàng bỏ mớ giấy vừa lau tay cho Lệ vô một cái tỉnh nước mắm đã được
rửa sạch, thầy Mười lấy nắp đậy lên, vẽ một lá bùa dán chặn lên trên
nấp. Xong, thầy ghi rõ tên Nguyễn Thị Diễm Lệ lên mảnh bùa.
- Đỡ cô ấy ngồi dậy.
San đỡ Lệ ngồi lên, nàng yếu đuối níu lấy chàng run lẩy bẩy. Trong khi
thầy Mười quì gối tụng niệm, San chợt thấy thân thể Lệ ép sát võ mình
chàng mát lạnh, có lẽ ngoài bộ đồ cô đang mặc, bên trong không có quần
áo lót gì hết. Bộ ngực thực lớn đè lên một bên cánh tũy chàng. Lệ yếu
ớt vòng một tay qua vai San níu cứng như ôm người tình. Có lẽ nàng vô
tình không biết làm cho San nóng người lên một cách dễ sợ. Tai hại hơn,
cô ta còn gối đầu lên vai chàng nhắm mắt lại nhưđể tìm một sự che chở.
Mặc dù bộ đồ của Lệ may bằng một loại vải dầy, nhưng may hơi bó, lại ép
sáp vô thân thể San, làm cho sự tưởng tượng của chàng đi thực
xa...
Tụng niệm một hồi lâu, thầy Mười quay lại nhìn hai người mỉm cười, nói:
- Bây giờ cô Lệ cứ yên trí, tôi đã trục hết thần ngải ra khỏi người cô
và nhốt vô cái hũ này rồi.
Vừa nói thầy Mười vừa chỉ tỉnh nước mắm mà San vừa bỏ những giấy vàng
bạc lau tay cho Lệ vô đó. Mặt Lệ đã bớt tái, hơi thở nàng điều hòa trở
lại, nàng nói cám ơn lí nhí trong miệng và vịn tay San đứng dậy. Nhưng
Lệ vẫn đứng dựa vào chàng thực tự nhiên như một người tình bé nhỏ. Thầy
Mười bảo chàng:
- Thầy San đưa cô Lệ ra ngoài vườn ngồi cho mát rồi vô đây cho tôi chỉ
cách luyện bùa yêu trong cây chuối hột, tối nay thầy biết đường mà
làm.
Nói xong thầy Mười lui khui lôi một chiếc hộp nhỏ, lấy ra ít đồ nghề vẽ
bùa, trong khi San dìu Lệ ra ngoài. Không khí ngoài vườn thật dễ chịu,
trời đã nhá nhem tối, những tàng cây rũ xuống thật thấp nhưmuốn che
khuất lối đi làm cho khung cảnh nơi đây thực .âm u. Cả hai đi tới một
gốc cây lớn, San dìu Lệ ngồi xuống. Nàng nót:
- Thầy San à, thầy ngồi xuống đây với em một chút rồi hãy đi. Vô trong
đó nóng nực lắm, vội gì.
San mỉm cười, ngồi xuống bên Lệ.
Chưa kịp yên chỗ, bỗng Lệ níu đầu chàng xuống hôn thực say đắm. San
bàng hoàng vì hành dộng bất ngờ của Lệ, nhưng vẫn đễ yên cho Lệ hôn.
Một lúc sau, Lệ ngước mặt lên nói nho nhỏ:
- Thôi, thầy San vô trong am đi, không có thầy Mười đợi đó.
San gật đầu nhè nhẹ yếu ớt, đứng dậy trở vô am. Thầy Mười thấy chàng
trở lại mỉm cười, hỏi:
- Cô Lệ đã hoàn hồn chưa. Coi bộ con nhỏ này cũng khá lắm. Nhiều người
thấy tay bị nhuộm đem mất hồn hai ba ngày.
Chàng nghi ngờ, hỏi:
- Thưa thầy vụ Ngải Đen là thế nào?
Thầy Mười cười hì hì:
- Làm gì có ngải nghệ gì. Tôi bôi một thứ thuốc bắc lên tay cô ta trong
lúc làm bộ coi tay, loại bột này mắt thường khó thấy, nó có đặc tính
gặp chất chát như nước trà thì đỗ sang mầu đen như mực tầu. Mình phải
làm như vậy cho nó không coi thường mình. Còn phép thuật Trời Phật làm
gì có thứ nào người phàm như chúng mình làm được như thế. Mà trong môn
phái ta, bạo phát thì bạo tàn, luyện làm gì những thứ ấy. Việc làm của
thầy tối nay mới là quan trọng, không thể nào lơ là được. Thứ bùa yêu
này mạnh nhất trong các loại bùa yêu. Nếu thầy yếu tay ấn, người nữ sẽ
làm thầy mất hồn mất vía đó, phải thận trọng hết sức. Tôi coi cô Lệ
không phải tay vừa đâu.
San bàng hoàng lãnh hội được bài học đầu tiên của thầy Mười! Nụ hôn môi
bất ngờ vừa rồi và thân thể căng đầy, tròn trịa của Lệ làm chàng lo sợ.
Tối nay chuyện gì sẽ tới với chàng.
Thầy Tư và thầy Mười vẫn ngồi trong phòngkhách đàm đạo Sau bữa cơm tối,
San và Lệ phải tắm rửa sạch sẽ đễ chứ tới nửa đêm đi luyện bùa
yêu.
Qua vụ "Ngải Đen", Lệ đã nhìn thầy Mười như thần thánh. Không ai sai
bảo mà nàng lui khui phụ với đám con thầy Mười nấu nướng đử thứ cho bữa
cơm tối thực siêng năng. Cái chuyện "Ngải Đen" của thầy Mười, thầy Tư
cũng biết từ lâu mà không nói với San. Thảo nào, khi sẩy ra tự sự ông
bình thản ngồi yên uống nước nhưkhông có gì say ra.
Mọi người ăn cơm tối xong, trời cũng đã thực khuya, sau khi dọn dẹp, Lệ
định xuống nhà rửa chén, thầy Mười can lại:
- Cô Lệ lên đây ngồi uống nưức đi. Để đó tụi nhỏ nó làm. Cô còn phải đi
luyện bùa yêu vì sắp tới giờ rồi.
Quay qua San, thầy Mười hỏi:
- Thầy San nhớ kỹ những gì tôi dặn chưa?
San lật đật gật đầu:
- Dạ, con nhớ rõ rồi.
Thầy thuộc lòng câu chú chứ?
- Dạ, có năm chữ thôi mà, quên sao được.
Thầy Mười đứng dậy, kéo chàng ra ngoài vườn. Đi loanh quanh một lúc ra
mãi tận sau am, thầy Mười đưa San vào một khu đất trồng toàn chuối, khu
này khuất hẳn với nhà trên. Tới một cây chuối lớn, có bắp chuối thật to
thòng xuống khoảng đầu người.
Thầy Mười bảo chàng:
- Đây là cây chuối chút nữa thầy phải lấy nước phép và thỉnh ông Tổ
nanh heo ra.
Tháy Mưừi chỉ vào một vết nứt trên thân chuối bảo San:
- Thầy rọi đèn pin vô đây coi, vết này do tôi lấy dao bằng ngà voi đâm
vô đó để nhét ông Tổ bằng nanh heo vô từmột trămngày trước. Tớihômnay,
ôngTổ đã theo những lá non đi lên tới ngọn và nhất định sẽ nhẩy ra, khi
ông Tổ nanh heo nhẩy ra, thân chuối sẽ vặn mình kêu cọt kẹt rất lớn.
Tàu lá non lú ra từ từ đẩy ông Tổ ra, thầy phải núm ngay lấy ông Tổ
nanh heo này, đừng để rớt xuống đất là hỏng. Nắm được ông Tổ rồi, đút
ngay vô miệng, nút một cái rồi đưa cho cô Lệ nút một cái. Chất nước
thầy và cô Lệ ..nút được từ ông Tổ nanh heo phải nuốt ngay, không được
nhổ đi. Nhớ dặn cô Lệ nữa. Lúc này cái tráp bằng sừng tê giác đã phải
có ba mươi sáu giọt nước hứng từ bắp chuối chẩy ra rồi. Tôi nhắc lại,
mỗi một giọt nước chẩy xuống thầy phải đọc một câu chú thổi vào tráp,
tất cả là ba mươi sáu lần, phải lấy cho đủ nước. Điều tôi chắc chắn
không thế nào thầy cầm lòng được trưức thân thể cô Lệ, đó là sự thúc
dục của bùa chú bắt thầy phải hành động, không có hại gì cả. Tuy nhiên,
dù cho có làm gì cũng không thể để nước đổ ra ngoài và ông Tổ không
được rơi xuống đất. Khi đã bỏ ông Tổ vô tráp đậy kín rồi, bỏ vào bao
vải, cột chắc lại treo lên cành cây nào cũng được. Lúc ấy là nhiệm vụ
của thầy đã hoàn thành.
Mai mốt, thầy có muốn luyện phép này, cứ làm như tôi nói, nhưng mỗi đêm
trước khi đi ngủ, phải tắm rửa sạch sẽ ra ngay chỗ đút ông Tổ vô thân
chuối, đọc đủ ba mươi sáu lần câu chú, vỗ vô thân chuối rồi đi ngủ
ngay. Thầy phải hiểu công trình chín mươi chín ngày của tôi luyện phép,
đừng làm hỏng chuyện. Có lẽ đây là lần sau cùng tôi luyện phép này, ông
Tổ khi luyệnxong có thể xài được hoài, cứ ngâm vào dầu thơm của thân
chủ đọc đủ ba mươi sáu lần câu thần chú là dùng'được. Càng lâu ngày ông
Tổ càng linh. Thầy giúp tôi luyện ông Tổ này xong, tôi cũng đã trả ơn
thầy bằng cách dậy thầy cách luyện phép này rồi. Hơn nữa, còn tặng thầy
sợi dây cà tha vàng mà cô Lệ hứa cho. Như vậy là không ai nợ ai đìều
gì. Ngày thứ một trăm này, tôi già rồi, bắt tôi đi thỉnh ông Tổ ra thì
tội nghiệp tôi quá. Để chúc nữa thầy biết tại sao ngay. à, còn một điều
thầy phải nhớ, mai mốt này, nếu có luyện phép, người nào được thầy chỉ
định thay thế cũng chỉ được làm vào ngày chót thôi, còn chín mươi chín
ngày đầu, khôngđược mượn người khác và không được gián đoạn một ngày
nào cả. Nếu thầy có sức luyện đủ trăm ngày là tốt nhất, sức quyến rũ
của nước phép sẽ mạnh vô song. Nhưng biết điều này rồi, xin thầy đừng
dụ dỗ đàn bà có chồng mà phá hạnh phúc gia đình người ta, Trời không
tha đâu. Đã có nhiều thầy hộc máu, chết bất đắt kỳ tửvì điều này rồi,
thầy muốn sống lâu thì nhớ lấy điều đó.
San ghi nhớ từng lời thầy Mưừi llói, hai người trở về phòng
khách.
Đêm nay trăng thực tròn, có lẽ là đêm mười sáu thì phải ánh trăng soi
rõ đường đi nên không cần đèn.
Về tới phòngkhách, thầy Tưvà Lệ đangngồi uống nước trà. Thầy Mười bảo
Lệ:
- Bây giờ cô theo thầy San đi thỉnh ông Tổ đi, có lẽ chúng tôi ngồi đây
uống nước trà một lúc rồi phải đi ngủ thôi, tụi tôi không thức khuya
chờ đâu, cô biết chỗ ngủ rồi phải không?
Lệ gật đầu, nói:
- Dạ, phòng con đã sửa soạn xong rồi, con ngủ ở cái trái bên kia với
chị Ba.
Thầy Mười gật đầu, nhìn San nói:
- Còn thầy San ngủ ngoài tấm phản sau tủ quần áo này, cái giường đó chỉ
vừa một người nằm thôi, tôi thường để cho mấy con bệnh nghỉ đêm ở đó,
thầy ngủ tạm nhé.
San lật đật nói:
- Dạ, dạ con ngủ đâu cũng được mà.
- Thôi, bây giờ thầy dẫn cô Lệ đi thỉnh ông Tổ cho tôi đi Cũng sắp tới
giờ bắp chuối chẩy nước ra rồi đó. San cầm cây đèn pin và túi vải đi ra
vườn. Lệ lật đật
theo chàng ngay.
Sợ Lệ không nhìn rõ đường, San rọi đèn cho nàng đi.Khi tới cây chuối
chuyện phép, chàng bảo Lệ:
- Tới rồi, cây chuối này đây.
Lệ nhìn quanh vườn chuối nói:
- Chỗ này dễ sợ quá thầy San ơi.
San nghe những tầu lá chuối cọ vào nhau kêu sào sạt cũng ơn ớn, chàng
nói:
- Nếu bảo tôi giừ này ra đây một mình coi bộ không ham rồi đó. Nhất là
ở đây gần am thờ phượngg của thầy Mười quá!
Lệ đứng gần lại San hơn, hỏi:
- Tại sao vậy?
Tại cô khôngbiết, thầy Mười nổi tiếngvề nuôi Thiên Linh Cái.
Lệ tò mò hỏi:
- Thiên Linh Cái là cái gì vấy thầy San?
Chàng thực thà nói:
- Thiên Linh Cái là cái bào thai sắp sanh người ta trục ra đem ngâm
rượu luyện phép. Nghe nói thầy Mười có ba con, hai trai, một gái, tụi
nó thành quỉ rồi, thầy Mười có thể sai khiến hồn chúng thoát ra khỏi hủ
rượu, chui ra ngoài đường được...
Chưa nói dứt câu, San giật nùnh vì Lệ đã nhẩy sổ lại ôm cứng lấy chàng.
Chân tay nàng run lẩy bẩy, San cố gỡ nàng ra nhưng không được. Lệ rên
rỉ:
- Thầy San ơi, về đi… em... em không dám ở đây đâu.
San nghe nàng nói chới với, bảo nàng:
- Về sao được, hôm nay là ngày quyết định sự hoàn tất một trăm ngày của
thầy Mười, tụi mình muốn ra đây luyện phép chứ thầy Mười có ép ai đâu,
nếu để thầy Mười thất bại vụ này, bộ cô yên được với ông đó hay sao?
Lúc đó tôi chỉ sợ cả ba con Thiên Linh Cái cùng bò vô nhà cô một lượt
thì đừng hỏi tại sao sui.
Lệ ré lên: